Ngày 11/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 204/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2026. Nghị định được ban hành nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y, góp phần tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với công tác phòng, chống dịch bệnh động vật, kiểm dịch, quản lý thuốc thú y, kiểm soát giết mổ và hoạt động hành nghề thú y, đồng thời thay thế Nghị định số 90/2017/NĐ-CP.
Theo Điều 1 Nghị định số 204/2026/NĐ-CP, phạm vi điều chỉnh của Nghị định bao gồm việc quy định các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y; hình thức xử phạt, mức xử phạt; biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt và việc thi hành các hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả. Các nhóm hành vi vi phạm được điều chỉnh bao gồm vi phạm quy định về phòng bệnh, chống dịch bệnh động vật; kiểm dịch động vật và sản phẩm động vật; kiểm soát giết mổ, sơ chế, chế biến động vật và sản phẩm động vật; quản lý thuốc thú y; và hành nghề thú y.
Một trong những điểm đáng chú ý của Nghị định là quy định thống nhất phạt tiền là hình thức xử phạt chính đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y. Bên cạnh đó, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức còn có thể bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề thú y có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn. Đồng thời, Nghị định quy định nhiều biện pháp khắc phục hậu quả, bao gồm buộc tiêu hủy động vật, sản phẩm động vật, thuốc thú y; buộc thực hiện kiểm dịch hoặc kiểm dịch lại; buộc tái xuất hàng hóa vi phạm; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm; buộc thu hồi giấy phép hoặc giấy chứng nhận được cấp không đúng quy định.
Đáng chú ý, Điều 5 Nghị định số 204/2026/NĐ-CP quy định mức phạt tiền tối đa đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y là 50.000.000 đồng đối với cá nhân và 100.000.000 đồng đối với tổ chức. Đồng thời, khoản 2 Điều 5 xác định mức phạt quy định tại Chương II là mức phạt áp dụng đối với cá nhân; trường hợp tổ chức thực hiện cùng hành vi vi phạm thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt áp dụng đối với cá nhân. Quy định này thể hiện nguyên tắc xử lý nghiêm hơn đối với chủ thể là tổ chức nhằm nâng cao trách nhiệm tuân thủ pháp luật trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và hành nghề thú y.
Đối với nhóm hành vi vi phạm quy định về phòng bệnh động vật, khoản 3 Điều 6 Nghị định số 204/2026/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời cho Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan quản lý chuyên ngành thú y hoặc thú y xã khi phát hiện động vật mắc bệnh, có dấu hiệu mắc bệnh hoặc chết do bệnh truyền nhiễm. Quy định này nhằm bảo đảm việc phát hiện, khoanh vùng và xử lý dịch bệnh được thực hiện kịp thời, hạn chế nguy cơ lây lan dịch bệnh trên diện rộng.
Đối với việc sử dụng thuốc thú y, Nghị định tăng cường chế tài xử phạt đối với nhiều hành vi vi phạm như sử dụng thuốc thú y không theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành thú y; sử dụng thuốc thú y phải kê đơn nhưng không có đơn thuốc; sử dụng thuốc thú y không rõ nguồn gốc, hết hạn sử dụng, chưa được phép lưu hành tại Việt Nam hoặc thuộc danh mục thuốc thú y cấm sử dụng. Tùy từng hành vi, mức phạt có thể dao động từ 500.000 đồng đến 10.000.000 đồng, đồng thời người vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc tiêu hủy thuốc thú y, nguyên liệu thuốc thú y hoặc thuốc y tế vi phạm theo quy định.
Đối với công tác phòng, chống bệnh Dại, điểm a và điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị định số 204/2026/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi không tiêm phòng vắc-xin phòng bệnh Dại cho động vật thuộc diện bắt buộc phải tiêm phòng; đồng thời áp dụng cùng mức phạt đối với hành vi không đeo rọ mõm cho chó hoặc không xích giữ chó, không có người dắt khi đưa chó ra nơi công cộng. Đây là quy định nhằm nâng cao trách nhiệm của chủ nuôi trong việc phòng ngừa nguy cơ lây truyền bệnh Dại và bảo đảm an toàn cho cộng đồng.
Đối với hoạt động kiểm dịch động vật, khoản 4 Điều 12 Nghị định số 204/2026/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với hành vi vận chuyển động vật, sản phẩm động vật không rõ nguồn gốc xuất xứ. Ngoài hình thức xử phạt bằng tiền, người vi phạm còn bị buộc thực hiện kiểm dịch lại; trường hợp việc kiểm dịch lại phát hiện động vật mắc bệnh hoặc sản phẩm động vật mang mầm bệnh truyền nhiễm thuộc Danh mục bệnh động vật phải công bố dịch thì buộc tiêu hủy theo quy định. Quy định này góp phần kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc động vật và sản phẩm động vật lưu thông trên thị trường, hạn chế nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh.
Có thể thấy, Nghị định số 204/2026/NĐ-CP đã xây dựng một cơ chế xử phạt toàn diện hơn đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực thú y, đồng thời tăng cường các biện pháp khắc phục hậu quả nhằm bảo đảm hiệu quả thực thi pháp luật. Việc bổ sung nhiều hành vi vi phạm, nâng mức xử phạt và quy định cụ thể trách nhiệm của các chủ thể liên quan được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường phòng, chống dịch bệnh động vật, bảo đảm an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.









